Đăng bởi: phathocchuyende | 26.03.2008

Thiền Nguyên Thủy

Thiền phật giáo là một nghệ thuật căn bản của Đạo Phật. Nghệ thuật đó được khám phá bởi Đức Phật hơn hai ngàn năm trăm năm về trước ở thời Đức Phật đạt được vô thượng Bồ Đề ở Bồ Đề Đạo Tràng. Trong suốt bốn mươi lăm năm từ thời chứng đạt giác ngộ, Ngài đã thực hành và dạy cho đệ tử của Ngài. Phương pháp thiền này cái được Đức Phật đề cập nhiều lần trong đại tạng Pāli, đặc biệt trong kinh Tứ Niệm Xứ. Đức Phật dạy: ‘Này các Tỳ Kheo, đây là con đường độc nhất đưa đến thanh tịnh cho chúng sanh, vượt khỏi sầu não, diệt trừ khổ ưu, thành tựu chánh trí, chứng ngộ niết bàn. Đó là Tứ Niệm Xứ.” Hay nói cách khác, mục đích của thiền là đoạn diệt tham, sân, si. Đức Phật nói: “Sự đoạn diệt của tham, sân, si được gọi là Niết bàn.” Trên con đường đi đến niết bàn, hành giả thực hành thiền định để phát triển tâm linh, đoạn trừ khổ đau, an tịnh tâm, và thấy được bản chất thật sự của sự tồn tại.Vậy, thiền là gì?
Từ ‘Meditation’, Pāli gọi là Jhāna, Sanskrit là Dhyāna, Trung Quốc gọi là Ch’an, Nhật Bản gọi là Zen, Triều Tiên gọi là Son, và Việt Nam gọi là Thiền. Theo Ngài Buddhaghosa thiền là sự tập trung của tâm và tâm sở một cách đều đặn và chánh đáng vào một đối tượng duy nhất. Như vậy Thiền là sự tập trung của tâm trên những đối tượng được chọn, cái làm cho tâm an tịnh. Sự tập trung này là con đường dẫn đến sự đoạn diệt khổ đau, giác ngộ, niết bàn. Như chúng ta biết, sau khi chứng đạt giác ngộ dưới cây Bồ Đề, Đức Phật đã dạy phương pháp thiền này, cái dựa trên sự chứng đạt của chính Ngài, cho đệ tử của Ngài như đã được đề cập trong kinh Pāli. Những phương pháp này bao gồm thiền chỉ (samatha meditation) và thiền quán (vipassanā meditation).
1. THIỀN CHỈ (SAMATHA MEDITATION)
Thuật từ ‘Samatha’ nghĩa là yên tĩnh, thanh tịnh, ‘samatha’ là từ đồng nghĩa với ‘Samādhi’. ‘Samādhi’ nghĩa là sự tập trung, sự nhất tâm (cittekaggata) và không bị dao động (avikkhepa). Thuật từ ‘samādhi’ được dùng trong cả hình thức Pāli và Sanskrit, nhưng ý nghĩa thì không khác.
Thiền chỉ nhằm mục đích đạt được những trạng thái tâm thức cái được biểu hiện bằng sự yên tịnh và tịch tĩnh của tâm ở những trình độ cao hơn càng lúc càng nhiều. Nó bao gồm hai thành phần đó là sự chứng đạt của sự tập trung của tâm ở trình độ cao nhất có thể đạt được và sự định tĩnh tăng dần của lộ trình tâm. Điều này được chứng đạt xuyên qua sự tập trung càng lúc càng nhiều, trong đó tâm loại bỏ đi tất cả những kích thích của thân và tâm.
Khi thực hành thiền chỉ, hành giả phải chọn một đối tượng duy nhất, và trong khi thực hành, hành giả để tâm trên đề mục thiền và tập trung sự chú ý trên đó càng nhiều càng tốt. Khi tâm bắt đầu dao động, hành giả không nên theo dõi tâm dao động đó, mà chỉ mang tâm về đối tượng ban đầu của thiền định.
Bằng cách thực hành thiền chỉ, tâm của hành giả loại bỏ tất cả những triền cái. Bao lâu tâm của hành giả tập trung trong định, tâm được tự do từ tất cả những cấu uế và hành giả duy trì an lạc, hạnh phúc. Nhưng khi tâm của hành giả ở ngoài thiền định, các triền cái đó sẽ trở lại với hành giả.
Khi tâm tập trung sâu vào một đối tượng duy nhất, tâm được thanh lọc từ tất cả những triền cái và cấu uế. Để đạt định sâu, hành giả cần phải theo dõi đề mục của thiền, mục đích của thiền chỉ là để đạt được định sâu như định cận hành và định an chỉ. Kết quả của thiền chỉ là đạt được Tứ Thiền Sắc Giới (hoặc Năm Thiền theo Abhidhamma), và Tứ Thiền Vô Sắc Giới.
2. THIỀN QUÁN (VIPASSANĀ MEDITATION)
Theo Ngài U Janakabhivamsa, thuật từ ‘vipassanā’ là một sự kết hợp của hai từ ‘vi’ và ‘passanā’. ‘Vi’ nghĩa là ba đặc tính của thân và tâm – vô thường (anicca), khổ (dukkha) và vô ngã (anatta). ‘passanā’ nghĩa là hiểu đúng hoặc nhận thức đúng xuyên qua sự tập trung sâu mà đã đạt được bằng những phương tiện quán sát của tiến trình thân và tâm. Vì thế cho nên ‘vipassanā’ nghĩa là sự hiểu đúng hoặc nhận thức đúng ba đặc tính của tiến trình thân và tâm.
Khi hành giả thực hành thiền quán, hành giả có nhiều đề mục về tiến trình thân và tâm khác nhau để quán. Trong tiến trình thực hành, khi tâm bắt đầu dao động, hành giả có thể mang tâm trở về đề mục ban đầu, hoặc theo dõi và quán sát tâm đang dao động đó cho đến khi thấy được bản chất thật sự của nó. Hành giả quán sát bao lâu nó còn tồn tại, khi tâm dao động biến mất, hành giả trở về với đề mục ban đầu.
Bằng cách thực hành thiền quán, tâm của hành giả có thể thanh lọc được tất cả những cấu uế như tham (lobha), sân (dosa), si (moha)…Một số cấu uế được loại trừ nhờ phương tiện của thiền quán sẽ không trở lại nữa. Hay nói cách khác, khi hành giả kinh qua tuệ quán kinh nghiệm đó sẽ không biến mất. Mục đích của thiền quán đạt được không những ở những cấp độ tập trung mà còn hiểu được một cách như thật tiến trình của thân và tâm. Kết quả của thiền quán là đạt được Bốn Thánh Quả.
Vì thế cho nên, thiền quán là một nghệ thuật độc nhất cái chưa từng được nghe trước thời Đức Phật. Như chúng ta biết, Đức Phật chính Ngài là người khám phá ra nghệ thuật thiền này. Ngài không những thực hành nghệ thuật này để phá huỷ tất cả những cấu uế cho sự chứng đạt mục đích tối hậu, niết bàn, mà Ngài còn dạy nghệ thuật đó cho đệ tử của Ngài nữa. Các đệ tử của Ngài sau khi thực hành nghệ thuật thiền này cũng đạt được Tứ Thánh Quả. Hoà Thượng Piyadasi nói rằng hành giả thực hành thiền chỉ (Samatha) và đạt được những trình độ tập trung cao hơn, nhưng nó không đặt hành giả trong vị trí an toàn tuyệt đối, bởi vì những cấu uế tiềm tàng không được loại bỏ một cách hoàn toàn. Chúng chỉ ở trong sự đình chỉ tạm thời, chúng sẵn sàng xuất hiện và quấy nhiễu tâm nếu hành giả thiếu chánh tinh tấn, chánh niệm và chánh định, vì còn có những cấu uế, những bất giác của bất thiện tâm ngấm ngầm trong tâm, hành giả chưa ở trong trạng thái an toàn tuyệt đối, mặc dù hành giả đạt được sự yên tịnh của tâm xuyên qua sự tập trung. Tuy nhiên, xuyên qua thiền quán, những cấu uế ngấm ngầm này được loại bỏ một cách hoàn toàn khỏi tâm của hành giả.
Mặc dù thiền chỉ chỉ là phương tiện đi đến giải thoát, nhưng nó cũng đóng vai trò rất quan trọng trong việc giúp cho hành giả phát triển khả năng về trí tuệ. Đức Phật nói: “Mở rộng thiền định, Tỳ Kheo người đạt được định sẽ thấy được sự vật một cách như thật.”
Kinh Tăng Chi giải thích tầm quan trọng của thiền định và thiền quán như vầy: “Này các Tỳ Kheo, có hai việc nên được mở rộng cho sự hiểu đúng như thật của tham, sân, si…Hai việc đó là gì? Thiền chỉ và thiền quán, hai loại thiền này cần được mở rộng cho sự từ bỏ, cho sự dập tắt và cho sự đoạn diệt của tham, sân và si.”
Từ những lời dạy của Đức Phật như được đề cập trên, chúng ta thấy rằng thiền chỉ và thiền quán hoặc là chánh định và chánh kiến không thể tách rời nhau, chúng ủng hộ nhau. Nếu không có sự chứng đạt nhất định về thiền chỉ, không thể mở rộng thiền quán được, ngược lại nếu không có sự chứng đạt nhất định về thiền quán, thiền định không thể mở rộng được. Hai loại thiền này không thể tách rời nhau, chúng luôn hỗ tương cho nhau. Đức Phật đã giải thích điều này bằng câu kệ như sau:

Không có thiền định thì không có trí tuệ,
Không có trí tuệ thì không có thiền định,
Người nào gồm đủ thiền định và trí tuệ,
Người ấy đã gần đến niết bàn.

Vì thế cho nên, trong khi thực hành thiền định hành giả nên thực hành cả thiền chỉ lẫn thiền quán. Ví dụ, trong tiến trình hành thiền, sau khi đã đạt được định sâu xuyên qua niệm hơi thở vô hơi thở ra, hành giả mở rộng thiền quán để hiểu được sự vật một cách như thật. Đó là nói, khi hành giả đã thăng tiến trong niệm hơi thở, và khi tâm được định tỉnh xuyên qua sự đoạn diệt các triền cái, hành giả có thể thấy được bản chất vô thường của hơi thở, về sự lên và xuống của hơi thở giống như những làn sóng biển. Dựa vào sự vô thường của hơi thở, hành giả cố gắng để hiểu được bản chất vô thường của năm thủ uẩn. Và chúng ta cũng nên biết rằng, thân này được kết hợp bởi năm thủ uẩn, cái luôn bị chi phối bởi vô thường (anicca), khổ (dukkha), vô ngã (anatta). Vì thế cho nên Đức Phật nói: “Này các Tỳ Kheo, năm thủ uẩn là vô thường, Cái gì vô thường là khổ. Cái gì khổ là vô ngã. Cái gì vô ngã, cần phải như thật quán vơí chánh trí tuệ là: “Cái này không phải của tôi; cái này không phải là tôi; cái này không phải tự ngã của tôi.” Do như thật quán với chánh trí tuệ như vậy, tâm ly tham, không có chấp thủ các lậu hoặc, được giải thoát.” Để làm rõ vấn đề này, câu chuyện của Tỳ Kheo Ni Khemā, Trưởng Tử Ni của Đức Phật, đạt được quả A La Hán trước khi xuất gia được kể lại như sau: Hoàng hậu Khemā là chánh hậu của vua Bimbisara. Hoàng hậu có nhan sắc đẹp đẻ và rất kiêu hãnh về sắc đẹp của mình. Vua muốn hoàng hậu đi đến Tịnh Xá Trúc Lâm (Veḷuvana) để đảnh lễ Đức Phật. Nhưng hoàng hậu thường cố gắng tránh né gặp Đức Phật, bởi vì Đức Phật luôn nói phỉ báng về sắc đẹp. Vua biết được tâm trạng của hoàng hậu, vì thế cho nên vua nhờ các nhạc sĩ hát những bài hát ca ngợi về sự thú vị và yên tỉnh của Tịnh Xá Trúc Lâm. Sau khi nghe những bài hát này, hoàng hậu trở nên thích thú và quyết định đi đến đó.Hoàng hậu đến Tịnh Xá Trúc Lâm ngay khi Đức Phật đang giảng pháp cho hội chúng. Với thần lực, Đức Phật hoá hiện một tiên nữ rất đẹp đang ngồi quạt cho Ngài. Khi đến đó hoàng hậu thấy tiên nữ tuyệt trần, so sánh sắc đẹp của tiên nữ với chính mình, Hoàng hậu thấy sắc đẹp của nữ nhân thắng xa sắc đẹp của mình rất nhiều. Khi Khemā nhìn kỹ lại ở nữ nhân thì sắc đẹp của nữ nhân giảm đi dần dần. Cuối cùng trước mắt Khemā là một người già yếu, rồi người già ấy lại đổi ra thành một thi hài, thân thể đáng ghê tởm của thi hài ấy đang bị tấn công bởi vô số con dòi. Ngay lập tức Khemā nhận thức được sự vô thường và sự vô dụng của cái đẹp. Đức Phật biết được tâm trạng của Khemā và nói, “ Này Khemā, hãy nhìn kỹ thân bệnh hoạn và già yếu này. Hãy nhìn kỹ thân thể cái mà người ngu quá quí trọng về nó. Hãy nhìn kỹ sự vô giá trị của sắc đẹp của nữ nhân.” Sau khi nghe Đức Phật nói vậy, Khemā chứng được quả Dự Lưu. Rồi Đức Phật nói bài kệ như sau: “Người đắm say các dục, tự lao mình xuống dòng, như nhện sa lưới dệt, người trí cắt trừ nó, bỏ mặc kệ không màng.” Sau khi nghe bài kệ này, Khemā chứng được quả A La Hán, rồi được phép xuất gia và trở thành Trưởng Tử Ni của Đức Phật.Tứ Niệm Xứ bao gồm cả hai phương pháp – thiền chỉ (samatha meditation) và thiền quán (vipassanā meditation). Sự tập trung của tâm trên bốn đối tượng –thân, thọ, tâm, pháp là thiền chỉ, và quán chiếu trên đặc tính vô thường cuả chúng là thiền quán.Tóm lại, thiền Phật giáo là con đường duy nhất dẫn đến sự an lạc, hạnh phúc, giác ngộ, niết bàn. Nếu hành giả thực hành thiền định một cách tinh tấn thuần thục, chắc chắn hành giả không những đạt được sự nhẹ nhàng về thân mà còn đạt được sự nhanh nhẹn của tinh thần, cái mang lại cho hành giả sự nhận thức rõ ràng một cách đúng như thật.
Hành giả thực hành lời dạy của Đức Phật một cách chính xác, thực hành chúng ngay trong đời sống hàng ngày, cho đến khi thuần thục chúng, hành giả sẽ đạt được giác ngộ, giải thoat, niết bàn không những ở tương lai mà còn ở ngay trong cuộc sống hiện tại này.

Tuệ Chân


Danh mục

%d bloggers like this: